ThotNot.com Forum Trang chủ
Trang chủ diễn đàn Trang chủ diễn đàn > Trung tâm Giải trí Thốt Nốt > GÓC VỈA HÈ > Phòng tán dóc
  Chủ đề mới Chủ đề mới RSS Feed - Hào khí Đông A đi vào trái tim nhân loại
 Ban quản trị   Hỏi đáp Hỏi đáp  Tìm kiếm trong diễn đàn   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

Hào khí Đông A đi vào trái tim nhân loại

 Trả lời Trả lời
Tác giả
Nội dung
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Lựa chọn cho chủ đề Lựa chọn cho chủ đề
phienvuong View Drop Down
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2


Tham gia: 02/05/2009
Trạng thái: Offline
Point: 62
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn phienvuong Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post Chủ đề: Hào khí Đông A đi vào trái tim nhân loại
    đã gửi: 18/06/2009 lúc 06:24

- Chiến thắng Đông Bộ Đầu năm 1258 đến nay vừa tròn 750 năm, non thiêng Yên Tử năm 2008 này cũng sẽ hiển sáng Phật Việt Trúc Lâm khi tổ chức UNESCO chọn làm nơi tổ chức đại lễ Phật Đản cho toàn thế giới. Hào khí Đông A, hào khí Việt Nam lại một lần nữa đi vào trái tim nhân loại.

Mô%20tả%20ảnh.%20Nguồn:%20www.vsolutions.vn
Ngay những dòng đầu tiên của cuốn Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, GS sử học Hà Văn Tấn đã dẫn lời sử gia Ba Tư Fazl Allah Radsid ud Din (1247-1318) ca ngợi hào khí Đông A như sau: Tugan (Thoát Hoan) đem quân vào nước đó (Việt Nam) chiếm lấy các thành thị ven biển và thống trị ở đấy trong một tuần lễ. Nhưng bỗng nhiên từ biển, từ rừng, từ núi, xuất hiện những đội quân nước đó đánh tan đạo quân của Tugan đang lo cướp bóc. Tugan (Thoát Hoan) trốn thoát và lại trở về đóng ở Lukin -fu (Giang Tây).

Sách Đại Việt sử ký toàn thư phần chép chiến thắng Đông Bộ Đầu năm 1258 cũng không khác: "Ngày 24, vua và Thái Tử ngự lâu thuyền, tiến quân đến Đông Bộ Đầu, đón đánh, cả phá được quân giặc. Quân Nguyên chạy trốn về, đến trại Quy Hóa, chủ trại là Hà Bổng chiêu tập người Man [23a] ra tập kích, lại cả phá bọn chúng."

GS sử học Hà Văn Tấn bình luận: " Hẳn chiến thắng oanh liệt của Đại Việt đã có tiếng vang lớn nên Ra-sít ut-Din, nhà sử học thành Hamadhan ở tận phía tây của châu Á mới chép vào bộ sử của mình những dòng trên".

Chắc chắn, sử gia Fazl Allah Radsid ud Din sống tận Tây Á ở thế kỷ 13 không biết nước Đại Việt nhỏ đến mức nào nhưng sức mạnh của đội quân Tugan thì ông biết rất rõ: "Những đoàn kỵ binh Mông cổ ồ ạt kéo sang phương Đông và phương Tây, gieo rắc kinh hoàng và chết chóc xuống những vùng xa hơn ở châu Âu và châu Á".

Vó ngựa của Nguyên Mông đã tràn qua Trung Quốc rồi quay lên phía Bắc nuốt chửng Khô-re-mơ. Năm 1221, quân Nguyên Mông tràn qua Azerbajdzhan, Gruzia và thẳng tiến qua thảo nguyên Nam Nga đến tận trung bộ sông Volga. Năm 1240 quân Nguyên Mông tấn công thành Kiev, đốt trụi Krakow, đánh tan liên quân Đức-Ba Lan. Tháng 12 năm 1241, quân Nguyên Mông vượt qua sông Danube đánh chiếm Hungary...

Sức mạnh của đội quân thiện chiến làm cả thế giới khiếp sợ như vậy tại sao lại bị quân dân Đại Việt chặn đứng, 3 lần tràn sang là cả 3 lần thảm bại? Nhà Trần đã hội đủ những yếu tố nào để tạo nên hào khí Đông A mà các sử gia trên thế giới đều công nhận? Liệu có phải do tính huyết thống của một dòng họ chài cá ven biển khi lên nắm quyền thì luôn giữ quan điểm mở đón gió bốn phương nên hội tụ được tinh hoa của khu vực?

Mô%20tả%20ảnh.%20Nguồn:%20www.vsolutions.vn
Đem câu hỏi này đến GS sử học Phan Huy Lê, ông đang bận trình bày cho đại diện của tổ chức UNSCO về di tích Hoàng thành Thăng Long nhưng cũng đưa ra một nhận xét nhỏ: "Năm nay sẽ có hội thảo quốc tế kỷ niệm 750 năm chiến thắng Đông Bộ Đầu, lớn lắm. Hào khí thời nào cũng có, thời Lý có hào khí của thời Lý, thời Lê cũng có hào khí của thời Lê... Nói hào khí Đông A là nói đến hào khí thời Trần và nó có những yếu tố khác biệt. Tính dòng họ hoặc quan điểm cởi mở của vương triều nhà Trần là những yếu tố góp vào...".

Trò chuyện với GS Lê Văn Lan cũng về vấn đề này, ông dẫn chính sử và liên hệ ngay đến chủ quyền dân tộc: Hào khí Đông A vượng chủ yếu ở thế kỷ 13, đến TK 14 thì bị tư hữu, dục vọng riêng tư làm cho suy yếu rồi. Tuy vậy, đến thế kỷ 15, năm Quý tị 1473 (Hồng Đức thứ 4, thời Lê Thánh Tông) nó lại hưng khởi và biểu hiện quyết liệt khi vua Lê Thánh Tông "dụ bọn Thái bảo Kiến Xương Bá Lê Cảnh Huy rằng: Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì phải tội chu di". Ta thấy lại tinh thần Hịch tướng sĩ văn của Trần Hưng Đạo.

Đoạn dụ của Lê Thánh Tông đúng là có hào khí của thời Lê sơ và chắc chắn nó được kế thừa từ hào khí Đông A qua những chi tiết cũng trong Đại Việt sử ký toàn thư: Vua lập tức dời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, Thủ Độ trả lời: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác". Ở một đoạn khác, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng khẳng khái trả lời: "Nếu bệ hạ muốn hàng thì chém đầu tôi trước". Tại Hội nghị Diên Hồng, Trần Quốc Toản nhỏ tuổi quá không được dự bàn việc nước nhưng dũng khí đánh giặc thì có thừa, được vua ban cho quả cam yên ủi. Mải nghĩ đến việc dựng cờ đại nghĩa đuổi giặc giữ nước nên Trần Quốc Toản đã bóp nát quả cam vua ban cho lúc nào không biết.

Như vậy, có thể hiểu được rằng, hào khí thì thời nào cũng có và nó sẽ xuất hiện khi vận mệnh của dân tộc lâm nguy. Nhưng đọc kỹ thì có thể thấy hào khí của thời Lê sơ nghiêng về phép vua, luật định của vua ban ra nhằm răn dạy quần thần còn hào khí Đông A có tính dân chủ hơn, xuất phát từ ý nguyện toàn dân (Hội nghị Diên Hồng ở Lục Đầu Giang) và ý nguyện của cả văn thần võ tướng trong triều nhất loạt nói lên rất hào sảng. Thô phác hơn, hào sảng hơn và có sức mạnh của nội lực dân tộc hơn rất nhiều.

Cắt nghĩa điều này không khó. Nhà Trần khởi nghiệp từ dân chài cá ven biển, khi lên ngôi vẫn giữ được cách nói của dân chúng, vua tôi trong triều ứng xử với nhau dựa trên lòng tin chẳng khác gì dân chúng. Mọi hiềm khích đều được cởi bỏ bằng cách tạo nên cớ để tin nhau. Trần Thái Tông lấy thân mình che cho Trần Liễu khỏi bị Trần Thủ Độ giết chết; Tiết chế Hưng Đạo Vương tắm cho Thượng tướng Trần Quang Khải, cũng chính ông đã bỏ đầu sắt nhọn bịt gậy chống để Trần Nhân Tông yên lòng khi ông hộ giá lui quân về vùng Thanh Hóa.

Thông thường các triều đại lên ngôi nhờ võ nghiệp yên định thiên hạ và sau đó dùng luật để trị dân nhưng nhà Trần lên ngôi bằng chính trị khá ôn hòa và gần như ngay lập tức mở ra thiền phái Trúc Lâm để thu phục nhân tâm. Võ nghiệp nhà Trần chói lọi sử xanh chẳng cần phải chứng minh thì thế giới cũng đã công nhận từ thế kỷ thứ XIII còn thiền phái Trúc Lâm, Phật Trần lấy lợi ích dân tộc làm mục đích ta có thể thấy rõ qua sử gia Ngô Thì Nhậm sống ở thế kỷ thứ XVIII.

Trong "Trúc Lâm Tông chỉ nguyên thanh", Ngô Thì Nhậm đã hạ những dòng chữ xác đáng: "Mọi người cứ tưởng Đức Điều ngự ta lên Yên Tử là để chuyên tâm tu hành, nhưng không biết rằng Ngài lên đó là còn để từ chỗ đắc địa đó xem động tĩnh trong thiên hạ".

Sau 2 lần đại thắng quân Nguyên Mông, Trần Nhân Tông đã lên Yên Tử xuất gia đầu Phật và trở thành Đệ Nhất tổ Thiền Trúc Lâm nhưng sâu xa hơn phải như ý của Ngô Thì Nhậm: Lên Yên Tử để xem động tĩnh trong thiên hạ. Yên Tử là trọng địa quân sự có tầm quan sát mọi động thái của kẻ thù phương Bắc để có kế sách đánh giặc, giữ yên bờ cõi. Như vậy là cả thế quyền lẫn thần quyền vương triều nhà Trần đã gồm đủ. Việc gì cần đến lời nói của vua thì vua nói, việc gì cần đến Phật dạy thì đã có các tổ thiền Trúc Lâm lên tiếng. Hai vế đắp đổi hỗ trợ cho nhau và cùng lo cho vận mệnh của sơn hà xã tắc thì sẽ tạo nên sức mạnh vô song và đó chính là hào khí Đông A chói ngời sử Việt.

Danh nhân Văn hóa thế giới Nguyễn Trãi mang trong mình một nửa dòng máu của vương triều Trần cũng có cái hào khí ấy khi vung bút viết: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo/ Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nên văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc, Nam cũng khác/ Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước / Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương....

Lên trên
phienvuong View Drop Down
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2


Tham gia: 02/05/2009
Trạng thái: Offline
Point: 62
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn phienvuong Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 18/06/2009 lúc 06:56

Hào khí Đông A - Dấu son của lòng yêu nước

Sau khi Trần Cảnh lên làm vua, đất nước dần dần đi vào ổn định và có sự phục hồi, phát triển đáng kể. Một mặt do Trần Thủ Độ chăm lo, củng cố; mặt khác, cũng chính nhờ ở tài năng xuất sắc của Trần Cảnh-Trần Thái Tông.

Hàng năm, triều Trần đều tổ chức lễ ăn thề ở đền Đồng Cổ (phía Tây Hà Nội ngày nay). Tất cả quan lại đều phải tham gia, ai trốn không dự lễ sẽ bị trừng phạt nặng nề. Trong buổi lễ, tất cả các quan phải mặc nhung phục, xếp thành hàng ngũ chỉnh tề và ra đền đọc lời tuyên thệ:

“Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết.”

Đặc biệt, hội thề này diễn ra công khai trước sự chứng kiến của đông đảo dân chúng. Nghĩa là giữa tầng lớp quan lại quý tộc và nhân dân, tựa hồ đã có một sự cam kết ngầm với nhau: Nhân dân củng cố thêm lòng tin ở tầng lớp cai trị mình, cũng như chính những vị phụ mẫu-rường cột nước nhà thêm một lần khẳng định lại lý tưởng và trách nhiệm nặng nề cần phải gánh vác. Vô hình chung, việc ấy rút ngắn khoảng cách giữa hai giai cấp chính yếu, gián tiếp kéo họ xích lại gần nhau trong mối quan hệ đồng là con dân nước Việt.

Đấy chưa phải là một hình thức hội nghị duy nhất trong lịch sử nhà Trần. Nếu nói về hào khí Đông A, có lẽ nó phải được thể hiện rõ nét hơn ở Hội nghị Bình Than, và cao nhất, là Hội nghị Diên Hồng; cả hai đều diễn ra trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285.

Sử cũ ghi lại, trước khi cho quân tràn xuống nước ta, nhà Nguyên đã nhiều lần phái sứ giả đến triều đình Đại Việt, dùng những lời lẽ hăm dọa xấc xược và thô bạo để phô trương thanh thế, có ý đồ cướp nước ta mà không động binh đao. Nhưng chúng đã sai lầm! Nhà Trần không những không mảy may nao núng, ngược lại còn hạ lệnh tống giam bọn sứ giả, đồng thời lập tức cho điều động binh sĩ đến trấn giữ biên ải và các nơi hiểm yếu, sẵn sàng tư thế cho cuộc chiến tranh vệ quốc chắc chắn nổ ra.

Điều ấy chứng tỏ, ngay từ đầu, vua tôi nhà Trần đã có một khí phách rất hiên ngang, vững vàng; cho dù từ trước đó, chắc chắn họ đều biết rõ những cuộc xâm lăng, bình định tàn bạo mà quân Mông Cổ đã tiến hành trên khắp thế giới.

Nhà thơ V.Frik đương thời có thơ rằng:

“ Không còn một dòng suối, một con sông nào
không tràn đầy nước mắt chúng ta;
Không còn một ngọn núi, một cánh đồng nào
không bị quân Tác-ta giày xéo.”

( Danh tướng Việt Nam-Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần)

Vậy thì cái gì đã làm nên sự tự tin to lớn ấy? Tại sao vua tôi một nước Đại Việt nhỏ bé lại dám có tư tưởng sẽ đứng lên phản kháng lại vó ngựa bất bại một quân đội từng là nỗi khiếp sợ của Nga, của Trung Quốc, của Pháp, của La Mã,…của toàn nhân loại thế giới khi ấy?

Phải chăng, lòng yêu nước đã hun đúc nên gan sắt dạ đồng, tình đoàn kết đã thâu tóm nhân tâm, tạo thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho họ? Vẫn còn đấy không khí hào hùng bất diệt: một trận Bạch Đằng chấm dứt gần ngàn năm Bắc thuộc của Ngô Quyền, một phòng tuyến Như Nguyệt với bài thần thi đanh thép khẳng định chủ quyền quốc gia mà Lý Thường Kiệt quét tan quân Tống…

Cha ông xưa chưa từng biết cúi đầu, lẽ nào hôm nay Trần triều ta khiếp nhược? Vậy là cuộc đọ sức lịch sử của quân dân Đại Việt và bộ tộc Tartare (Thát-đát) đã chính thức được châm ngòi!

Cuộc ác chiến đầu tiên diễn ra tại chiến trường Bình Lệ Nguyên. Không rõ chính xác lực lượng phía quân Trần lúc đó là bao nhiêu, nhưng Nguyên tướng Ngột Lương Hợp Thai đã theo sông Hồng kéo sang nước ta tổng cộng khoảng ba vạn kị binh và bộ binh- một con số khổng lồ!

Lựa chọn Bình Lệ Nguyên làm nơi giao tranh, có lẽ là một quyết định thật sự sai lầm của Đại Việt ta lúc này. Bởi các chiến binh Mông Cổ chuyên sống trên lưng ngựa lại gặp địa hình trung du như Bình Lệ Nguyên đây thì có khác gì cá gặp nước, hổ về rừng, mặc sức tung hoành phát huy sở trường chiến đấu!

Chính vì quyết định sai lầm ấy mà suýt chút nữa, toàn bộ giang sơn đã rơi vào tay giặc. Trước tình thế nguy hiểm hiển hiện, Trần Thái Tông có ý định dốc toàn bộ lực lượng sống mái với kẻ thù. Tự ông thân chinh đốc chiến, xông pha giữa trận tiền, mặc cho lòng quân đã hơi nao núng. Lúc biến không lung, lúc nguy không sờn quả là bản lĩnh rất đáng khâm phục của người đứng đầu thiên hạ. Nhưng đó cũng là ý định thiếu sự cân nhắc, dễ dàng chuốc lấy thất bại.
Nếu Trần Thái Tông không có một hổ tướng Lê Tần phò giá, Đại Việt không có một minh thần như Lê Tần sáng suốt dâng kế lui binh, cục diện lịch sử có thể đã hoàn tàn thay đổi.

Một mặt, hậu thế phải kính nể ông là người hết lòng trung quân ái quốc, dám tả xung hữu đột giữa chiến địa giết giặc không chút ngại ngần. Mặt khác, ta cần trân trọng sự thẳng thắn cương nghị của Lê Tần, dám can gián nhà vua, phê phán kịch liệt quyết định sai lầm: dốc toàn quân ra sống mái với giặc Nguyên. Sự thẳng thắn ấy mấy bậc bề tôi đã có được đâu! “Quân lệnh như sơn”, lời tướng bảo như đanh đóng cột; huống hồ vị chủ tướng ở đây cũng là đương kim hoàng thượng; mà quyền thiên tử há ai dám nghịch?

Chính Lê Tần đã đem tính mệnh của mình lên bàn cân, với phía bên kia là non sông và con dân Đại Việt…Câu trả lời đã hết sức tường minh. Nếu không phải là đấng anh hùng dũng khí, Lê Tần không thể nói được những lời tận đáy tâm can như vậy. Và nếu không phải là người có dũng khí phi phàm, ông cũng không thể nào đưa ra quyết định lui binh đầy sáng suốt trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó.

Qua câu chuyện lịch sử thời Trần này, chúng ta đã lưu lại những bài học giá trị. Không phải lúc nào sự hiên ngang quả cảm cũng có thể mang lại thắng lợi, cũng như không phải lúc nào lòng trung nghĩa cũng là tiêu chuẩn thông minh để đánh giá một bậc làm tôi.

Dù Trần Thái Tông xứng đáng với vị trí minh quân, nhưng ông cũng có khi sai lầm. Nhưng người đã kịp nhận ra cái sai ấy của mình và Trần Thái Tông đã dẹp bỏ được lòng tự tôn của bậc quyền cao tối thượng, vua tôi tương hợp, một lòng vì dân vì nước!

Trong tháng ngày gian khổ, có lúc phải bỏ cả Thăng Long thành mà lui mãi về Thiên Mạc Hà đóng binh ấy, quyết tâm và tinh thần bất khuất của quân dân Trần mới thực sự tỏa sáng rực rỡ nhất.

Làm sao chúng ta quên Thái sư Trần Thủ Độ với lời nói khẳng khái, tràn đầy chí khí: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”. Chỉ là một lời nói, nhưng đủ sức đánh bật mọi sự yếu lòng, mọi lo lắng của quân thần, kịp thời củng cố mạnh mẽ chiến ý toàn binh. Tấm gương tiết tháo ấy chưa phải đã là duy nhất dưới thời đại nhà Trần. Có thể nói thời thế tạo anh hùng, hay chính một đất nước, một triều đại anh hùng kiêu dũng đã sản sinh ra những người con ưu tú.

Lê Tần khởi xướng việc lui binh, đương thời có sự ủng hộ đầy kiên quyết của Trần Thủ Độ, đã đặt nền tảng cho binh kế “thanh dã”-vườn không nhà trống mà sau này, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và nhiều vị tướng lĩnh khác của dân tộc đã kế thừa và nâng lên thành một nghệ thuật đánh giặc vô cùng độc đáo. Binh kế này là nguyên nhân chủ quan quan trọng nhất làm nên chiến thắng Nguyên Mông lần thứ nhất của nhà Trần.

Tưởng lùi một bước, nào ngờ tiến thêm hai bước. Quân Nguyên viễn chinh chiếm được Thăng Long, ngỡ đâu phen này đã bình định được nước Nam. Chẳng dè kinh đô giờ đây im lìm hoang vắng, hoàng tộc và dân chúng đã rút khỏi đó từ lúc nào. Lương thực không có, lại thêm thủy thổ khác biệt, bệnh dịch hoành hành, bọn ngoại bang bị đẩy vào tình thế gay go không kém gì quân nhà Trần ngày nào trên chiến tuyến Bình Lệ Nguyên.

Đúng vào lúc thời cơ đã chín muồi, Trần Thái Tông hạ lệnh tổng phản công.

Một trận đánh ác liệt nữa lại diễn ra tại khu vực Đông Bộ Đầu (nay là khu vực dốc Hàng Than, đầu cầu Long Biên-Hà Nội). Và lần này, sức mạnh hợp quần đoàn kết của quân đội Trần triều đã phát huy toàn bộ. Ba vạn quân Nguyên tan tác, Ngột Lượng Hợp Thai- kẻ từng gieo rắc kinh hoàng khắp Ba Lan, Đức và Trung Quốc- cũng phải tháo chạy nhục nhã trước sự phản công như vũ bão của quân ta. Chẳng những thế, trên đường rút lui, chúng lại tiếp tục bị các đội dân binh, đặc biệt là các đội dân binh của nhưng dân tộc ít người, phục kích, giáng cho nhiều đòn chí mạng. Người đương thời đã mỉa mai chế giễu bọn tàn binh này bằng cái tên “Giặc Phật”, bởi chúng đã khiếp đảm đến nỗi dù đói khát cùng cực, cũng không dám tính chuyện dừng lại cướp lương thực để ăn.

Thê thảm thay, xấu hổ thay!

Thắng lợi đầu tiên này là thắng lợi chung của tập thể quân dân Đại Việt, thắng lợi của lòng yêu nước và khí phách ngoan cường, thắng lợi của những tài năng quân sự kiệt xuất, được trui rèn, tích lũy qua quá trình giữ nước lâu dài. Mùa xuân Mậu Ngọ năm ấy, kinh thành Thăng Long náo nức tưng bừng hơn bao giờ hết! Dư âm của thời kỳ đó còn mãi vang vọng trong những lời thơ của vua Trần Nhân Tông:

“Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong “

Nghĩa là:

“Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong”

( Nguyên Phong tức là niên hiệu do vua Trần Thái Tông đặt ra từ năm 1251. )
Lên trên
phienvuong View Drop Down
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2


Tham gia: 02/05/2009
Trạng thái: Offline
Point: 62
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn phienvuong Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 18/06/2009 lúc 07:26
Hào khí Đông A - Dấu son của lòng yêu nước
 
Dù đã chuốc lấy kết cục thảm bại của những kẻ xâm lăng Tổ quốc của người khác, nhưng lũ giặc Nguyên vẫn không từ bỏ ý định thôn tính nước ta.

Năm 1261, Hốt Tất Liệt lên ngôi Hoàng đế, phong vua Trần Thánh Tông ( Trần Hoảng, con vua Trần Thái Tông) làm An Nam Quốc Vương, đồng thời đòi đặt Đạt Lỗ Hoa Xích (chưởng ấn) người Mông Cổ bên cạnh triều đình nhà Trần, có quyền đi lại giám sát các châu quận của nước Nam.

Dĩ nhiên, Trần Thánh Tông thẳng thừng bác bỏ, đồng thời đôn đốc việc luyện võ tu binh vì biết rõ âm mưu gây hấn có mục đích không lấy gì làm tốt đẹp của bọn chúng. Trong thời gian nhà Nguyên liên tục phái sứ giả sang triều đình nước ta nhũng nhiễu, hạch sách, sử cũ đã ghi nhận một câu chuyện, qua đó thêm lần nữa khẳng định khí phách hiên ngang của vua Trần nói riêng và triều Trần hay Đại Việt ta nói chung.

Năm 1268, một sứ bộ nhà Nguyên đem chiếu thư sang Thăng Long thành. Khi tuyên đọc chiếu thư trước long điện, hắn thấy Trần Thái Tông không chịu quỳ lạy chiếu chỉ, đã tỏ thái độ tức giận, hỏi:

- Sao nhà vua không quỳ lạy chiếu chỉ của hoàng đế?
- Nước tôi trước đã nhận được chiếu của Hoàng Đế, nói: “Phàm áo mũ, điển lễ phong tục cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi”. Nhận chiếu không quỳ lạy, đó là điều lệ cũ, sao sứ giả lại nói tôi làm trái ý hoàng đế.

Thái độ của vua Trần chính là biểu hiện của lòng yêu nước, của sự tự tôn dân tộc. Nước Đại Việt dù nhỏ bé, nhưng cũng là một quốc gia có vua, có chủ quyền, có lịch sử; thì cớ gì phải chịu quỳ lạy một tờ chiếu chỉ vô tri của tên vua đứng đầu một ngoại quốc từng đem quân sang giẫm đạp lên quê cha đất tổ chúng ta?

Chính tư thế anh dũng bất khuất ấy là nguyên nhân cho lần xâm lược thứ hai diễn ra sau khi nhà Nguyên đã thôn tính xong Trung Quốc và đang ở thời kỳ sung mãn nhất. Hốt Tất Liệt sai con trai là Thoát Hoan dẫn năm mươi vạn quân tràn sang biên giới nước ta.

Năm mươi vạn! Phải nhớ lại rằng khi ấy, dân số Đại Việt ta cũng chỉ vào khoảng ba triệu người. Tức là nếu tính bình quân, cứ sáu người dân Đại Việt bất kể già trẻ gái trai…, phải đương đầu với một tên giặc Nguyên khát máu. Tự cổ chí kim trong lịch sử Đông Tây, chưa hề có một cuộc đối đầu nào không cân xứng đến như vậy!

Năm 1282, tin mật báo về, quân Nguyên hợp binh ở biên giới, chuẩn bị xâm lược nước ta. Ngay sau đó, các vương hầu tôn thất nhà Trần được mật lệnh về Bình Than triều kiến nhắm hoạch định chiến lược chống xâm lăng.

Cũng trong buổi hội này, thế hệ trẻ Việt Nam đã có dịp thể hiện bản lĩnh của mình, qua hình ảnh người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản.

“Hoài Văn tuổi trẻ, chí cao
Cờ đề sáu chữ, quyết vào lập công”

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Lòng yêu nước và khát vọng được chiến đấu, được hi sinh vì quê hương, có bao giờ đợi tuổi ? Quả cam hôm nao nhũn nát trên tay Trần Quốc Toản là một chứng minh đầy sống động cho sự căm tức vì tinh thần yêu nước bị xem thường, cả giận bởi chí dũng ngất trời không được mọi người thấu tỏ, lại xấu hổ cho tuổi đời còn quá trẻ của bản thân đã khiến mình không được đứng vào hàng ngũ đoàn quân vệ quốc.

Vì thế, chàng đã tự trở về tập hợp gia nô hơn một nghìn người, mua sắm khí giới chiến thuyền, ngày đêm luyện tập võ nghệ lược thao. Để rồi đội quân “tự giác” ấy đã trở thành một đội quân thiện chiến bậc nhất, luôn sát cánh với quân chủ lực của triều đình, lập nên bao chiến công hiển hách.

Không thể nói Trần Quốc Toản vì lòng tự ái cá nhân mà quyết tâm thể hiện. Trước sau như một, chàng trai ấy chỉ có một mong muốn tột bậc là được chiến đấu trên sa trường, đáp đền nợ nước ơn vua. Tấm lòng trung quân ái quốc ấy đã theo lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” của chàng đi đầu trong mọi cuộc giao tranh, khí thế trùng trùng khiến Nguyên quân bao phen bạt vía.

Sau hội nghị Bình Than, bước đầu nhà Trần đã thiết lập được khối đoàn kết của các quý tộc và tướng lĩnh cao cấp. Nhưng đúng như tinh thần của hội nghị, vấn đề bức thiết nhất đặt ra vẫn là làm sao để khối đoàn kết ấy lan rộng ra toàn dân, huy động được sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc kháng chiến.

Nhận định về ý nghĩa của hội nghị này, sử gia Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư rằng:

“ Giặc Hồ (tức giặc Nguyên) tràn vào cướp, ấy là nạn lớn của quốc gia. Hai vua (tức Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) cùng hợp mưu, bề tôi cùng họp bàn, há chẳng có kế sách gì hay sao mà phải ban yến để hỏi ý các bậc phụ lão? Ấy chẳng qua cũng vị Thánh Tông muốn nhân đó để xét lòng thành ủng hộ của dân và cũng để dân nghe lời dụ hỏi mà cảm kích để rồi hăng hái hơn đó thôi. Làm như vậy là giữ được cái đức của người xưa, trong người già để xin lời hay vậy.”

Vua Trần đúng thực là những vị vua luôn thương dân như con, hết sức thấu hiểu lòng dân. Tiếng nói của những bậc phụ lão lúc nào cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhất là trong xã hội trung đại còn sùng Nho giáo thời bấy giờ.

Hội nghị Diên Hồng năm 1285 thành công, triều Trần đã nắm được lực lượng có vị trí và vai trò chi phối xã hội. Hơn thế nữa, hội nghị diễn ra vào thời điểm ngày Tết Nguyên Đán đã cận kề-thời điểm dễ dàng khơi dậy lòng tự hào dân tộc và đẩy ý chí chiến đấu vì độc lập của toàn dân lên cao nhất.

Ngày Tết cổ truyền của nước ta rồi sẽ ra sao nếu quân Nguyên chiếm được đất tổ quê cha? Còn đâu thanh bình, còn đâu tự do, còn đâu những phong tục tập quán mang đậm màu sắc dân tộc? Phải đánh, đánh để giữ tôn miếu giang sơn, giữ cơ nghiệp của mỗi nhà.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép lại không khí của buổi hội nghị này như sau:
“ Các cụ phụ lão đều hô quyết đánh, vạn người như một, tiếng vang như cùng bật ra từ một cửa miệng.”

Và…linh hồn của những chiến công hiển hách nhất thế kỷ XIII của lịch sử nước nhà- Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn- đã kịp thời biên soạn và phổ biến tác phẩm “Hịch tướng sĩ” của mình. Bài hịch tràn đầy nhiệt huyết, tràn đầy khí thế quyết chiến quyết thắng; xứng đáng là tác phẩm tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước cao đẹp của thời đại Đông A.

Tác giả của nó cũng là một nhà quân sự kiệt xuất, một người anh hùng dân tộc, một tấm gương yêu nước mẫu mực trong lịch sử Việt Nam.

Câu nói khó quên trong cuộc đời của Trần Hưng Đạo chính là lời trước vua Trần Thánh Tông năm 1285:

“Bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy hàng.”

Trong “Hịch tướng sĩ”, ông cũng đã thể hiện tấm lòng yêu nước nồng nàn của bản thân:

“ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thần này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.”

Tuy là một bài hịch được viết theo thể chính luận, nhưng “Hịch tướng sĩ” lại là một sự kết hợp nhuần nhuyễn những luận điểm, dẫn chứng đầy sức thuyết phục…với cảm xúc, thái độ chân thành của người viết. Chính vì vậy, nó không chỉ dừng lại ở vị trí một văn kiện quân sự, mà thực sự còn là một áng thiên cổ hùng văn, có giá trị bất diệt trong nền văn học nước nhà. Kết thúc tác phẩm, một lần nữa Trần Hưng Đạo vương đã khẳng định: Khi quốc biến gia nguy, lẽ sống thiêng liêng nhất của mỗi người dân chính là cầm vũ khí đứng lên giết giặc.

Ngọn lửa đã thực sự bùng lên! Thanh niên binh sĩ khắp nơi đua nhau thích lên tay hai chữ “Sát Thát”- tượng trưng cho ý chí cùng sinh tử với giặc Nguyên đến hơi thở cuối cùng.

Dân nước Việt đã có tục xâm mình từ thời xưa, như một biểu tượng của tôn giáo, thờ thần biển, thần sông; hoặc như một tín ngưỡng tâm linh, dùng hình xăm để hộ thân trước thuồng luồng thủy quái trong cuộc sống gắn liền cùng sông nước. Trên thế giới, người châu Phi hay người da đỏ cũng có tục lệ xăm mình, biểu thị sức mạnh của các chiến binh.

Nhưng chỉ đến triều đại Đông A, hình xăm với hai chữ “Sát Thát” ấy mới thực sự mang ý nghĩa cao đẹp của lòng tự hào dân tộc. Nó đã chuyển tải sức mạnh của thời đại, của lịch sử cho những chiến sĩ Trần triều anh dũng, giúp họ có thêm niềm tự tin và ý chí quyết thắng khi đương đầu với một trong những kẻ thù hùng mạnh và tàn ác nhất từ trước đến nay của nước Việt.

Những binh lính ấy cũng biết được rằng, nếu lỡ sa vào tay giặc, việc có hình xăm “Sát Thát” trên tay đồng nghĩa với bản án tử hình đợi sẵn. Nhưng họ không hề e sợ.

Ngay cả Đỗ Khắc Chung, khi đem thư (vờ) xin giảng hòa đến trại tướng giặc Ô Mã Nhi, còn ung dung đưa cánh tay có hình xăm cho hắn xem và nói rằng:

_ Quân dân nước tôi vì lòng trung phẫn mà tự thích chữ vào cánh tay….Tôi là trung thần, há lại không có hai chữ đó hay sao?

(Đại Việt sử ký toàn thư)

Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Trần Quốc Toản và hình xăm “Sát thát” ấy, có thể được xem là hai biểu tượng đẹp nhất tiêu biểu cho hào khí Đông A bất diệt thiên thu. Cho dù là nam phụ lão ấu, binh sĩ hay vua tướng Trần triều, đều đi vào lịch sử với những nét đẹp rạng ngời được truyền tụng từ đời này sang đời khác. Trần Bình Trọng trung kiên giữ gìn tiết tháo, cho đến khi đứng trong hang ổ quân thù, vẫn quả cảm thét lên :

_ Ta thà làm ma nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc!

Lòng yêu nước đã thấm nhuần vào trong tim óc, sống làm người nước Việt thì chết cũng làm ma nước Việt. Được mang dòng máu đỏ hào hùng bất khuất của ông cha Việt quốc truyền lại, là niềm tự hào, là lý tưởng sống và chiến đấu cả cuộc đời Trần Bình Trọng.

Và khi đã nhắc đến những tướng lĩnh tài ba kiêu hùng của thời đại Đông A, chắc chắn không thể quên tên tuổi của bộ ba tướng lĩnh: Trần Khánh Dư-Trần Nhật Duật-Trần Quang Khải.

Trần Khánh Dư triệt phá toàn bộ đoàn thuyền tải lương của quân Nguyên trong cuộc xâm lược lần thứ ba. Trần Nhật Duật với trận Hàm Tử, Trần Quang Khải với trận Chương Dương ác liệt kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Đặc biệt, cuộc đời của mỗi vị tướng này, đều có những sự kiện, nhưng giai thoại đầy thú vị. Như Trần Khánh Dư, từng là Thiên Tử Nghĩa Nam của vua Trần Thánh Tông bởi là bậc trí dũng hơn người, nhưng cũng có lúc đắc tội bị giáng xuống làm thứ dân, làm một kẻ bán than nghèo khó. Trần Quang Khải, vừa là tướng võ vừa là quan văn, lưu truyển cho hậu thế tác phẩm “Tụng giá hoàn kinh sư”:

“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san.”

Còn Trần Nhật Duật, ông nổi tiếng với học vấn quân sự lẫn văn hóa uyên thâm, thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập của nhiều dân tộc khác nhau. Đương thời, ông được rất nhiều người kính nể. Không ít người Trung Quốc lưu vong khi thất bại trong cuộc chiến chống Nguyên-Mông, chạy sang lánh nạn ở nước ta đã tình nguyện theo về chiến đấu dưới trướng của Trần Nhật Duật.

Ấy là chưa kể đến những tùy tướng tài giỏi dưới trướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Phạm Ngũ Lão với đội quân luôn đoàn kết nghĩa tình sống và chiến đấu bên nhau, nức tiếng xa gần “Phụ tử chi binh-Huynh đệ chi binh”.

Chàng Yết Kiêu khi thua trận vẫn nhất quyết cắm thuyền ở lại chiến trường, đợi thấy Hưng Đạo Vương mới chịu dời đi. Cùng với chàng là Dã Tượng, hai người đã nêu tấm gương sáng ngời cho hậu thế về lòng trung thành, về dũng khí của người lính và về ý thức kỉ luật chiến đấu rất cao.

Đó là những đức tính cần thiết của những người hợp thành một đội quân đoàn kết, thống nhất, bách chiến bách thắng Trần triều. Hưng Đạo Vương từng khen ngợi họ - những chỗ dựa tin cậy của mình-rằng:

_ Ôi! Chim hồng, chim hạc sở dĩ có thể bay cao, bay xa là nhờ ở sáu trụ xương cánh. Nếu như không có sáu trụ xương cánh ấy thì chim hồng, chim hạc cũng như chim thường mà thôi.

Cũng chính Trần Hưng Đạo, vị Quốc công tiết chế chịu trách nhiệm hoàn toàn về tổ chức quân sự, nắm giữ vận mệnh quốc gia, đã ban lệnh khắp cả nước rằng:

“Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng.”

(Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII-Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm)

Như vậy, nhiệm vụ đánh giặc cứu nước gần như đã trở thành một nghĩa vụ, là một điều được qui định trong pháp luật. Sắc lệnh này của Trần Hưng Đạo quả là có tác dụng rất lớn.

Sử cũ còn chép lại rằng:

“Người nào đã đầu hàng giặc, thì giờ đây, dẫu đang ở trên đất giặc cũng bị kết án vắng mặt, hoặc khép tội lưu, hoặc khép tội xử tử và tịch thu gia sản sung công.”

Chính nhờ đó mà sau này xét lại, cả nước lúc ấy chỉ có hai làng Bàng Hà và Ba Điểm (đều thuộc Hải Dương ngày nay) là vi phạm sắc lệnh. Ngoài ra, toàn quốc toàn dân đều theo đó thi hành, đồng loạt nhất tề kháng chiến đi đến ngày thắng lợi cuối cùng.
Lên trên
phienvuong View Drop Down
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2


Tham gia: 02/05/2009
Trạng thái: Offline
Point: 62
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn phienvuong Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 18/06/2009 lúc 07:35
Thuyết Minh Về Hào Khí Đông A?
Theo lối chiết tự, chữ Trần còn có thể đọc là Đông A (vì được ghép từ hai chữ Đông và A). Khi nhà Trần tại Việt Nam thành công trong việc chống lại sự xâm lấn của nhà Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần còn được gọi là "hào khí Đông A".

1.Giải thích:
- Nhà Trần thừa kế truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước Đại Việt trên cơ sở ý thức tự lập , tự cường dân tộc .Ba lần giặc Nguyên - Mông sang xâm lược nước ta là ba lần chúng đều đại bại.Dưới thời Trần , đất nước hoà bình , thịnh trị , nhân dân sống ấm no.
- Hào khí Đông A là hào khí đời Trần .Do chữ Trần gồm bộ A và chữ Đông hợp thành .Tuy nhiên ,nói tới hào khí Đông A không chỉ nói riêng hào khí đời Trần mà cong chỉ hào khí của cả giai đoạn lịch sử từ thế kỷ X dến thế kỷ XV.
- Biểu hiện của hào khí Đông A là tinh thần tự lập , tự cường , lòng yêu nước , khát vọng lập công giúp nước ; ý chí quyết chiến , quyết thắng mọi kẻ thù.
2. Hào khí Đông A thể hiện trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải:
- Hoàn cảnh sáng tác:
+Cuối năm 1284, quân Nguyên – Mông do Thoát Hoan càm đầu ồ ạt tấn công nước ta lần thứ II.Trước sức mạnh của quân giặc ,Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông phải rời kinh đo đi lánh nạn.Nhưng chỉ mấy tháng sau , vào tháng 5-1285(tháng 4 năm Ất Dậu ),quân ta đã phản công baats ngờ, chiến thắng lớn ở trận Hàm Tử, tháng 7 – 1285 (tháng 6 năm Ất Dậu), ta lại thắng lớn ở Chương Dương.Kẻ thù thất bại hoàn toàn.
+Sau chiên thắng,Trần Quang Khải là người hộ giá hai vua Trần trở về kinh do.Trong không khí ngày khải hoàn,Trần Quang Khải đã cảm hứng làm bài thơ này.
- Tái hiện lại khí thế chiến thắng của dân tộc,bày tỏ niềm tự hào của tác giả :
Đoạt sóc Chương Dương độ.
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
(Chương Dưong cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù)
- Khát vọng xây dựng đất nước vững bền lâu đời
Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san
(Thái Bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu)
3. Hào khí Đông A trong bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão
- Hoàn cảnh sáng tác :
Năm 1282 quân Nguyên đòi mượn đường đánh Chiêm Thành,nhưng thực ra định xâm lược nước ta.Trước tình hình ấy,vua Trần mở hội nghị Bình Than bàn kết hoạch đánh giặc.Sau đó,Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng được cử lên biên ải phía Bắc để trấn giữ đất nước.Hoàn cảnh lịch sử chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều dến hào khí trong bải thơ.
- Hào khí dân tộc thể hitện qua tư thế,hành động của người trai Đại Việt :
Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.
(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng khí ắt sao Ngưu)
- Khát vọng lập công giúp nước, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc :
Nam nhi vị liễu công danh trái.
Tu thính nhân gian nghe thuyết Vũ Hầu.
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)
4.Kết luận :
- Hào khí Đông A còn thẻ hiện không chỉ ở lĩnh vực chính trị,lịch sử mà cả trên các lĩnh vực văn hoá,học thuật...
- Hào khí này sẽ âm vang ở thời đại sau.Trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu có tư thế của một con người tráng chí bốn phương,tâm hồn phóng khoáng,rộng mở.Trong Cảm hoài của Đặng Dung có phong thía của đấng anh hùng thất bại mà vẫn ngạo nghễ trước cuộc đời...
Lên trên
phienvuong View Drop Down
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2


Tham gia: 02/05/2009
Trạng thái: Offline
Point: 62
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn phienvuong Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 18/06/2009 lúc 07:48

Hào khí Đông A - Dấu son của lòng yêu nước (I)

Bảo Khanh của mẹ,

Biết là con yêu thích lịch sử, mẹ chép vào Blog mấy bài hay cho con đọc. Con vẫn thường hỏi mẹ trăm ngàn câu hỏi vì sao ? Vì sao nhà Trần lại lấy lẫn nhau ? Anh lấy em họ, cháu lấy cô...Và tưởng như phút nào đó, trong con có sự khinh thường nền luân lý của nhà Trần ???

Con à, mẹ họ Trần, va mẹ lúc nào cũng tự hào mà nói rằng họ Trần là dòng họ vẻ vang và vinh quang nhất trong lịch sử VN. Một dòng họ luôn biết hy sinh và chịu đựng, nhân ái và ôn hoà, một dòng họ cống hiến cho lịch sử biết bao anh hùng dân tộc mà toàn là hoàng tử và công chúa : Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Hưng Đạo, Trần quốc Toản..., An Tư Công Chúa, Huyền Trân Công Chúa

Con bắt đầu đọc nhé, con yêu

“Hào khí Đông A” đơn giản là “Hào khí thời Trần”, tức khí thế chống giặc ngoại xâm của quân dân nhà Trần, vì chữ “Trần” có thể đọc theo lối chiết tự là “Đông A”.

Có thể nói lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần là một triều đại, đã có thể tạo được sự đồng tâm nhất chí tối cao, trên- dưới, gái-trai,trẻ- già, quân-dân… như một. Ngay cả trong các cuộc kháng chiến của dân tộc ta trước đây và sau này, cũng chưa chắc sánh được.

Sự ra đời và phát triển của triều đại đặc biệt này cho đến nay vẫn còn là một đề tài tranh cãi của nhiều luồng ý kiến khác nhau.

Bởi chỉ riêng sự ra đời của nhà Trần, bản thân nó vốn đã mang rất nhiều điều đặc biệt, khó gặp ở bất cứ đâu, trong lịch sử của bất cứ quốc gia nào.

Nói về xuất xứ nhà Trần, có câu phong sử rằng:

“Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài.”


Phải nhớ lại, lúc bấy giờ, cơ đồ vàng son hơn 200 năm của nhà Lý đã mục ruỗng và thối nát không gì cứu vãn nổi. Nội chiến xảy ra triền miên, vua Lý không còn khả năng điều khiển đất nước, thậm chí không còn khả năng điều khiển được hoạt động của triều đình. Thái tử nhà Lý khi ấy là Lý Hạo Sảm, đã phải bỏ cả hoàng thành mà lưu vong bên ngoài.

Đại Việt sử kí toàn thư ghi lại, vào năm Kỉ Tị 1209:

“Hoàng Thái Tử (Lý Hạo Sảm) chạy đến thôn Lưu Gia ở Hải Ấp, nghe tiếng con gái của Trần Lý là Trần Thị (tức Trần Thị Dung) có nhan sắc đẹp, bèn lấy làm vợ”.

Đây chính là cuộc hôn nhân định mệnh, đưa nhà họ Trần, vốn là một dòng họ giàu có nhờ nghề đánh cá, chính thức bước lên vũ đài chính trị và lịch sử Việt Nam.

Những cái tên như: Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa, mà nổi bật nhất là Trần Thủ Độ, đã đi vào sử sách.
Nếu Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa…v.v đã cùng nhau hợp sức dựa vào sự tin dùng, ưu ái của vua Lý để đưa họ Trần lên vị trí một dòng họ có thế lực mạnh mẽ trong triều đình nhà Lý; thì Trần Thủ Độ là người đã đặt nền tảng vững chắc, rồi sau đó là thực hiện kế hoạch “Đổi Lý thay Trần” êm thấm, nhanh gọn đến khó tưởng tượng nổi.

Ngay cả Trần Thị Dung, thân là hoàng hậu triều Lý, nhưng nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã phải nhận xét về bà như sau:

“Công của bà giúp nội trị cho nhà Trần nhiều hơn báo đáp cho nhà Lý. Thế mới biết sinh ra Linh Từ( tức Trần Thị Dung) là để mở mang cơ nghiệp cho nhà Trần vậy.”

Đứng trên quan điểm Nho giáo vốn coi trọng “Tam cang”, “Ngũ thường”, thì việc làm của họ Trần là phản nghịch, . Nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, họ Trần “công nhiều hơn tội”. Khi nhà Lý đã mục nát nặng nề, sự tồn tại đã làm trì trệ sự phát triển của dân tộc và đất nước; thì “Đổi Lý thay Trần” chính xác là việc phế lập phù hợp với quy luật hưng vong.

Và thử hỏi, giả sử Trần Thủ Độ năm xưa không dựa vào sự chơi đùa con trẻ giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh, tiếp tục tác hợp nên một cuộc hôn nhân định mệnh nữa giữa hai họ Lý-Trần, thì lấy đâu ra việc nữ vương Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng- mà sau này chính là Trần Thái Tông anh minh thần võ, lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ nhất; viết nên những trang chiến tích oanh liệt đầu tiên cho hào khí Đông A?
Ngay như Trần Thủ Độ, có thể nói là con người đầy cơ mưu, một tay khai sinh, duy trì và phát triển đế nghiệp cho dòng họ mình, thẳng thừng dẹp bỏ các thế lực chống đối; nhưng bản thân ông cũng là một vị anh hùng dân tộc, khí phách tài ba một đời dốc hết cho sơn hà xã tắc, đáng để đời sau học hỏi

http://handung107-lichsu.blogspot.com/2008/09/ho-kh-ng-du-son-ca-lng-yu-nc-i.html

Lên trên
 Trả lời Trả lời
  Chia sẻ   

Đến diễn đàn Tôi có thể làm gì? View Drop Down

Web ThotNot
Web ThotNot.com Forum
Copyright © 2002-2021, ThotNot.com Forum - Diễn đàn đồng hương Thốt Nốt
Phát triển bởi tất cả các thành viên ThotNot.com, ThotNot.net
Địa chỉ liên hệ: adminthotnot.net