ThotNot.com Forum Trang chủ
Trang chủ diễn đàn Trang chủ diễn đàn > Thốt Nốt thân yêu > THỐT NỐT QUÊ TÔI
  Chủ đề mới Chủ đề mới RSS Feed - Khảo cứu nhân vật Thốt Nốt
 Ban quản trị   Hỏi đáp Hỏi đáp  Tìm kiếm trong diễn đàn   Đăng ký Đăng ký  Đăng nhập Đăng nhập

Khảo cứu nhân vật Thốt Nốt

 Trả lời Trả lời
Tác giả
Nội dung
  Chủ đề Tìm kiếm Chủ đề Tìm kiếm  Lựa chọn cho chủ đề Lựa chọn cho chủ đề
Hồ Xuân Dung View Drop Down
Thành viên cấp 3
Thành viên cấp 3


Tham gia: 05/06/2007
Đang ở: Vietnam
Trạng thái: Offline
Point: 500
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn Hồ Xuân Dung Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post Chủ đề: Khảo cứu nhân vật Thốt Nốt
    đã gửi: 27/04/2008 lúc 16:39

Khảo cứu:

THỐT NỐT - XƯA VÀ NAY

PHẦN DANH NHÂN:

SOẠN GIẢ MỘC QUÁN – NGUYỄN TRỌNG QUYỀN

* Tác giả sưu tầm và tổng hợp: Hồ Xuân Dung

Hầu như tất cả nghệ sỹ cải lương, nghệ nhân đờn ca tài tử Nam Bộ khi nhắc đến Mộc Quán- Nguyễn Trọng Quyền đều tỏ lòng thành kính. Vì ông là một trong những hậu tổ khai sinh nền cải lương Việt Nam.

Ông tên Nguyễn Trọng Quyền, sinh năm bính Tý 1876, qua đời năm quý tỵ 1953 tại bệnh viện Châu Đốc do chứng tai biến mạch máo não, đột quỵ. Ông sinh ra tại thôn Thạnh Hoà, xã Trung Nhứt, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Trung Nhứt, huyện Thốt Nốt, tp. Cần Thơ). Cha ông tên Nguyễn Văn Tường và mẹ là Trương Thị Thạnh.

Nguyễn Trọng Quyền thuở nhỏ học giỏi lại mê đàn ca tài tử. Sau khi học xong phần Nho học rồi tốt nghiệp tiểu học trường Pháp, ông làm thư ký cho hãng rượu tư nhân Phước Hiệp do Vương Thiệu làm chủ. (Hổng biết có bà con với Vương Thiệu Cường không nhỉ? – Người viết)

Vương Thiệu là con trai của Vương Có – một người Việt gốc Hoa giàu có ở vùng Thốt Nốt. Trước kia, Vương Có tự lập một ban hát Tiều đi lưu diễn khắp vùng. Về sau, không hiểu vì lý do gì giải tán. Vương Thiệu vốn là một kép hát của gánh hát Tiều của cha. Khi trưởng thành, Vương Thiệu quản lý hãng rượu. Vốn mê hát, Vương Thiệu thường tụ tập bạn bè, trong đó có Nguyễn Trọng Quyền để hát với nhau.

Thời điểm đó, các gánh hát bộ Năm Tú, gánh Nam Đồng Ban của Hai Cu Mỹ Tho thu hút nhiều khán giả. Vương Thiệu vốn có sẵn máu nghệ sỹ trong người đã rủ Bảy Nhiêu – Một nghệ sỹ tài tử địa phương và Nguyễn Trọng Quyền lập gánh hát Tập Ích Ban.

Nguyễn Trọng Quyền lãnh phần viết tuồng (kịch bản).  Thuở đó, các đoàn hát, gánh hát đa phần hát ra bộ hoặc ca vọng cổ chứ chưa có tuồng cải lương vọng cổ.

Nguyễn Trọng Quyền đã tận dụng kiến thức tiếng Tiều, Quảng của mình để biến những bài bản nhạc Tiều, nhạc Quảng thành những bài: Ú Liu Ú Xáng, Xang Xừ Líu, Xáng Xáng Lìu, Khốc Hoàng Thiên, Xách Xủi, Tân Xái Phí, Bạc Cấm Lùng, Dì Phảnh, Mành Bản... Ông viết tuồng Việt theo bài bản tuồng Tàu, đồng thời đưa thêm những khúc nhạc Tiều, Quảng đã sáng tác Việt ngữ vào tuồng.

Ðặc trưng của lối hát tuồng Tàu thời đó (phỏng theo lối hát Hý Khúc Trung Quốc) như sau: Trong nghệ thuật biểu diễn tuồng Tàu, yếu tố âm nhạc, đặc biệt là các bài ca chiếm địa vị chính yếu. Vì vậy những lời thoại đối đáp giữa các nhân vật không thể tự nhiên như ngôn ngữ ở ngoài đời thường mà phải ngâm nga, nhấn nhá theo tiết tấu và âm điệu nhạc. Người ta gọi ngôn ngữ tuồng kết hợp với âm nhạc như vậy là ngôn ngữ đã được âm nhạc hoá. Về động tác hình thể thì cũng không phải diễn như ở cuộc sống bình thường mà là phải được nâng lên thành múa, thành vũ đạo. Người trong nghề gọi là các động tác được cường điệu, được vũ đạo hóa. Ví dụ từ việc dâng trà, cách phất tay áo, tay vuốt râu, mỗi bước đi…nói chung để biểu lộ cảm xúc của nhân vật thì động tác hình thể phải được cách điệu hóa, được nâng lên thành vũ đạo kết hợp nhuần nhuyễn với cách ca ngâm và hát thay cho những lời đối thoại bình thường. Sau 4 tháng viết tuồng, ngày 18/10/1929, gánh Tập Ích Ban chính thức ra đời với 3 vở tuồng do chính Nguyễn Trọng Quyền ký bút danh Mộc Quán: Phụng Nghi Đình, Giọt lệ chung tình, Tình duyên phấn lạt tại Thốt Nốt.

Năm 1922 khi đến hát ở Bạc Liêu, Bảy Nhiêu lần đầu được nghe bài Dạ cổ Hoài Lang (sau này là bài vọng cổ). Thấy hay, phù hợp với sân khấu cải lương nên ông cùng soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền đưa vào tuồng hát, được khán giả tán thưởng. Kiểu ca cải lương ra bộ có lồng nhạc Tiều, Quảng (đã việt ngữ hoá) theo kịch bản hoàn toàn Việt đã làm khán giả mê như điên dại. Từ đó, tuồng cải lương sử dụng bài vọng cổ chính thức chào đời.

Ngay lập tức, kiểu cải lương mới đã chinh phục ngay khán giả hâm mộ. Gánh Tập Ích Ban và tuồng của Nguyễn Trọng Quyền đã đưa Bảy Nhiều lên thành nghệ sỹ cải lương nỗi tiếng khắp lục tỉnh thời ấy. Thành công bước đầu tạo phấn khích, Tập Ích Ban lưu diễn khắp Nam kỳ lục tỉnh, qua luôn bên Campuchia, đến Nam Vang phục vụ Việt Kiều.

Sau đó ông tiếp tục sáng tác cho gánh hát Tập Ích Ban những vở tuồng cải lương Châu Trần Kết Nghĩa, Tây Sương Ký, Thố Nhận Oan Ương và nhuận sắc tuồng Bội Phu Quả Báo của ông Phạm Công Bình. Ông trở nên nổi tiếng khắp Nam kỳ Lục tỉnh. Từ năm 1923 đến năm 1953, ông làm soạn giả cho các gánh hát Huỳnh Kỳ của ông Bầu Phước Georges, gánh hát Hữu Thành của ông Bầu Nguyễn Bá Phương ở Thốt Nốt, gánh hát Phụng Hảo 3 của ông Bầu Nguyễn Bữu, gánh hát Kỳ Quan của ông Bầu Năm Hý, gánh hát Thái Bình của ông Bầu Tư Thới, và gánh hát Phụng Hảo 4 của ông Bầu Châu Văn Sáu.

Trong 50 năm sáng tác ông để lại cho đời  85 vở tuồng cải lương và 3 truyện thơ, đa số các tuồng đó được nhà in Phạm Văn Thìn xuất bản và được nhiều đoàn hát sử dụng như tuồng Phụng Nghi Ðình, Mạnh Lệ Quân thoát hài, San Hậu (viết theo tuồng hát bội San Hậu), Tây Sương Ký, Tái Sanh Duyên, Vạn Huê Lầu. . .

Là thầy tuồng khi nghệ thuật cải lương mới được khai sanh, ông là người thầy trực tiếp chỉ dạy ca, hát cho các nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, Năm Phỉ, Ba Vân, Từ Anh, Bảy Nhiêu, Tư Út, Sáu Trâm, Ngọc Hải, Sáu Ngọc Sương, Tường Vi, Tư Thới, Thanh Tao. . . Các nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Năm Phỉ mỗi khi nhắc đến ông Nguyễn Trọng Quyền đều hết lòng cung kính, gọi là sư tổ. Nghệ sỹ Phùng Há, Sáu Trâm và Ngọc Hải là học trò và là dưỡng nữ của ông. Giới nghệ sĩ sân khấu cải lương tiền phong và các nghệ sĩ tài danh của những thập niên 1950, 1960, 1970 đều tôn vinh ông là Hậu Tổ của cải lương.

Ngoài gánh Tập Ích Ban, ông còn làm thầy tuồng cho gánh hát Hữu Thành của ông bầu Nguyễn Bá Phương ở Thốt Nốt. Ông đã viết 5 tuồng cho gánh hát Hữu Thành.

Năm 1935, ông Nguyễn Bữu ở Trà Vinh và Phùng Há lập ra gánh hát Phụng Hảo 3, mời ông làm thầy tuồng. Ông đã viết 7 tuồng cho gánh hát Phụng Hảo 3 mà hai vở tuồng San Hậu và Phụng Nghi Đình đến nay vẫn được nhiều đoàn hát khác đem ra sử dụng.

Năm 1937, gánh hát Hữu Thành tái sinh và gánh hát Kỳ Quan của ông Năm Hý ở Thốt Nốt được thành lập. Hai gánh hát nầy mời ông làm thầy tuồng chung cho hai gánh hát. Thời gian này ông sáng tác 17 tuồng.

Năm 1939, ông làm thầy tuồng cho gánh hát Ngự Bình của Bầu Tư Thới. Tại đây, ông đã sáng tác 8 vở tuồng Tàu và dã sử cho đoàn hát Ngự Bình.

Năm 1952, ông Châu Văn Sáu tức Bầu Nhơn cùng Phùng Há lập đoàn cải lương Phụng Hảo 4. Ông sáng tác một vở tuồng, lấy nước Nhựt làm bối cảnh cho câu chuyện, tựa là Luống Cày Rướm Máu. Tuồng nầy được hát một tuần lễ tại rạp Nguyễn Văn Hảo. Vở tuồng đang ăn khách phải đóng cửa rạp vì ông bầu Châu Văn Sáu và Phùng Há được tin ông bị đứt mạch máu não và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 21 tháng 9 năm Qúy Tỵ (1953) tại bệnh viện Châu Đốc.

Phùng Há, ông bầu Châu Văn Sáu, nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Năm Phỉ, Ba Vân, Từ Anh, Kim Cúc, Kim Lan về Thốt Nốt dự lễ an táng ông tại xã Trung Nhứt, huyện Thốt Nốt. Đích thân Phùng Há đứng ra xây mộ cho ông tại ấp Phụng Thạnh 2, xã Trung Nhứt vì Phùng Há vừa là học trò, vừa là dưỡng nữ của ông.

Ông chỉ chỉ viết tuồng cải lương mà còn sáng tác thơ và nhiều thể loại khác với các bút danh Mộc Quán, Thốc Sơn, Hưng Hoành, Cái Sơn Bô Lão.

Ngoài 85 tuồng cải lương, ông còn sáng tác 7 tập thơ tuồng, 12 tập sách dạy con cháu cách xử sự ở đời và trên 100 bài thơ các loại. Ngoài tác phẩm Trùng Ma Phụ Giám, ông còn viết Phu Thê Ngôn Luận và 113 câu hát đối đáp. Một số tác phẩm của ông, hiện nay đã được tái bản. Phùng Há vẫn cất giữ các tuồng có bút tích của ông.

Gần đầy, trong một liên hoan cải lương khu vực miền Nam tại tp. Hồ Chí Minh, ông Lê Duy Hạnh, Tổng thư ký Hội sân khấu TP. Hồ Chí Minh từng đánh giá rằng, soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền là thế hệ tiên phong trong sáng tác cải lương. Ông là một danh nhân đáng tự hào của quê hương Thốt Nốt.

(sưu tầm và tổng hợp từ nhiều nguồn)

http://www.phongsuvietnam.com
Bài này được cám ơn bởi: nina,dai soai,Teo mi tòm,TrangThai,Chú Rễ Thốt Nốt,2006,Nguyễn Trung,Admin,hunglinh90
Lên trên
hunglinh90 View Drop Down
Thành viên cấp 9
Thành viên cấp 9
ảnh đại diện

Tham gia: 23/05/2006
Đang ở: Vietnam
Trạng thái: Offline
Point: 2229
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn hunglinh90 Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 27/04/2008 lúc 17:37

Không ngờ Thốt Nốt soạn giả Mộc Quán - Hậu tổ của sân khấu cải lương lại là người Thốt Nốt, chắc còn nhiều tình tiết hấp dẫn hơn về soạn giả Mộc Quán, nghệ sĩ Bảy Nhiêu... nếu còn phiền Xuân Dung có thể post thêm cho mọi người cùng xem để biết quê hương mình cũng có người tài,

Cho tôi hỏi thêm, nhà của soạn giả Mộc Quán ở ấp Phụng Thạnh 2 ? Dung có biết cụ thể là ở đâu không? Tôi sống ở ấp này từ bé mà không nghe người lớn nói về cái tên này. Có lẻ ngày xưa không ai quan tâm đến tác giả mà chỉ biết nghệ sĩ biểu diễn mà thôi...
 
Cám ơn nhiều về thông tin và bài viết này...
Bài này được cám ơn bởi: TrangThai
Lên trên
Hồ Xuân Dung View Drop Down
Thành viên cấp 3
Thành viên cấp 3


Tham gia: 05/06/2007
Đang ở: Vietnam
Trạng thái: Offline
Point: 500
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn Hồ Xuân Dung Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 27/04/2008 lúc 20:13

Ở Thốt Nốt còn nhiều nhân vật nổi tiếng lắm, sẽ lần lượt post lên cho  mọi người xem và hiểu về quê hương Thốt Nốt hơn.

Hiện nay con cháu cố soạn giả Mộc Quán-Nguyễn Trọng Quyền vẫn còn sống ở Thốt Nốt. Hàng năm cứ đến ngày giỗ, mọi người vẫn thường về thắp nén nhang tưởng nhớ cố soạn giả tài ba. Hiện, Khu lưu niệm của cố soạn giả được xây dựng trong trung tâm Văn hóa huyện Thốt Nốt %3cmile. Sẽ post những hình ảnh về nơi sinh sống ở Thốt Nốt của cố soạn giả để mọi người biết.


Sửa bởi Hồ Xuân Dung - 27/04/2008 lúc 20:18
http://www.phongsuvietnam.com
Bài này được cám ơn bởi: nina,Nguyễn Trung
Lên trên
Hồ Xuân Dung View Drop Down
Thành viên cấp 3
Thành viên cấp 3


Tham gia: 05/06/2007
Đang ở: Vietnam
Trạng thái: Offline
Point: 500
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn Hồ Xuân Dung Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 28/04/2008 lúc 13:47

tưởng nhớ PHẠM HỮU QUANG - THI SĨ GIANG HỒ

 (nhân ngày giỗ của anh)

* Bài: Hồ Xuân Dung

 

 

GIANG HỒ

Thơ: Phạm Hữu Quang

Tàu đi qua phố, tàu qua phố
Phố lạ mà quen, ta giang hồ
Chẳng lẽ suốt ngày bên bếp vợ
Chẻ củi, trèo thang, với giặt đồ

Giang hồ đâu bận lo tiền túi
Ngày đi ta chỉ có tay không
Vợ con chẳng kịp chào xin lỗi
Mây trắng trời xa, trắng cả lòng

Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn
Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình
Gối trang sách cũ nằm nghĩ bụng
Cười xưa Dương Lễ với Lưu Bình

Giang hồ có buổi ta ngồi quán
Quán vắng mà ta chửa chịu về
Cô chủ giả đò nghiêng góc ghế
Đếm thấy thừa ra một góc si

Giang hồ mấy bận say như chết
Rượu sáng chưa lưa đã rượu chiều
Chí cốt cầm ra chai rượu cốt
Ừ thôi trời đất cứ liêu xiêu

Giang hồ ta chẳng hay áo rách
Sá gì chải lược với soi gương
Sáng nay mới hiểu mình tóc bạc
Chợt tiếng trẻ thưa ở bên đường

Giang hồ ba bữa, buồn một bữa
Thấy núi thành sông biển hóa rừng
Chân sẵn dép giầy, trời sẵn gió
Ngựa về ta đứng bụi mù tung

Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta mới khóc hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi, cũng nhớ nhà.

 

Hầu như khách yêu thơ, nhà thơ, dân nhậu yêu thơ từ Bắc chí Nam đều thích ngâm nga:

Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng  nhớ nhà.

Có một dạo, các thi sĩ miền Bắc hỏi nhau: “Hai câu thơ này của ai?”. Không biết của ai, nhưng ai cũng thuộc hai câu thơ này.

Thế rồi, người ta đi tìm tác giả bài thơ. Người lần ra một gã nhóc. Gã nhóc tuy chỉ biết làm thơ con cóc nhưng cả gan nhận đại đùa mình chính là tác giả bài thơ giang hồ. Lần hồi, cái kim trong bọc cũng thòi ra, một số thi sĩ miền Nam chợt nhớ ra một gã thơ râu tóc sum xuê hiền lành có cái tên Phạm Hữu Quang ở hội Văn nghệ An Giang. Tiếc rằng, lúc đó, thi sĩ đã không còn nữa. Anh chết vì chứng tai biến mạch máu não.

Người ta lại nhớ ra Phạm Hữu Quang sinh năm 1952, quê ở Bắc Đuông, Thốt Nốt, Cần Thơ học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cùng khoá với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, sau chuyển về học tại Đại học Cần Thơ, ra trường dạy học ở Thốt Nốt một thời gian, rồi chuyển về Hội Văn nghệ An Giang.

Cha mất sớm, còn mẹ và chị. Lúc chị  đi lấy chồng, anh sống thui thủi bên mẹ. Có lẽ hoàn cảnh gia đình côi  cút sớm tạo nên tâm trạng u uẩn, day dứt và lạc lõng khôn nguôi  trong lòng:

Em suốt đời chẳng hiểu được mình

Vẫn như bé khi về bên chị

Cây gáo chẳng hoá thành cây thị

Nhưng chị em vẫn mãi nàng tiên

Những năm đi học, anh tham gia nhóm thơ Về Nguồn ở Cần Thơ, ra tập thơ đầu tay in ronéo Người tình quê hương. Kế tiếp là tập thơ thiếu nhi Đàn gà con - Văn nghệ An Giang xuất bản năm 1980, tập thơ cuối  cùng do bạn hữu gom lại in cho anh là Ngẫu hứng chiều sông Hậu - Văn nghệ An Giang năm 2000. Đấy là "đứa con tinh thần" mà anh chưa nhìn thấy mặt, đã lặng lẽ đi xa.

  

 

Ta vô cớ cười rung như tiếng lạc

Ta về, ừ nhỉ ta về thôi

Ô hay bến thuyền kèo cột gãy

Qua mùa hoạn lộ chẳng còn vui

  

Suốt đời anh là những dự tính dở dang, những bài thơ chưa thành hình, những chuyến đi giang hồ vặt các tỉnh, thành phố nào Cần Thơ, Bạc Liêu, Châu Đốc, nào Sài  Gòn, Đà Lạt, Hà Nội…nhất thiết phải lên đường về một nơi chốn nào đó. Có lần anh nhảy lên Phương Bối - ngủ một đêm với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, tâm sự vơi đầy rồi lộn về.

  

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tín kể : "Bữa nhậu ở Hà Nội có Nguyễn Quang Lập, Bảo Ninh, bỗng Nguyễn Đình Chính đọc lại hai câu thơ

 

Giang hồ ta chỉ  giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà

 

   Rồi hỏi :

- Biết thơ ai  không ?

- Không.

- Của Phạm Hữu Quang. Mọi người hãy uống gởi cho Quang một ly đi."

  

Khi tai biến mạch máu não lần thứ nhất, anh gượng dậy, dù liệt nửa thân, anh gắng gượng tập đi tập viết lại. Cơn tai biến mạch máu não lần thứ hai lại ập đến, anh mất lúc 12 giờ 45 phút ngày 28/4/2000 ở tuổi 49 !

  

Rất nhiều người thuộc bài Giang hồ mà không hề biết tác giả là ai. Có lần người bạn tôi ở Huế vào chơi, hứng lên ngâm :

 

Tàu đi qua phố, tàu qua phố

Phố lạ mà quen, ta giang hồ

…..

Vợ con chẳng kịp chào xin lỗi

Mây trắng trời xa trắng cả lòng

……

Giang hồ ba bữa buồn một bữa

Thấy núi thành sông biển hóa rừng

  

Anh thường viết thơ về quê hương, đất nước và những xúc cảm bạn bè. Thơ anh tuy ít nhưng bài nào cũng “thấm” cũng “say” và hay.

Anh đã góp một phần làm rạng danh xứ sở Thốt Nốt.

Sau đây là vài bài thơ tiêu biểu của anh:

 

QUA HÀM LUÔNG

Qua Hàm Luông lòng ta như say
Con sông trắng màu sương khói vỡ
Hơn mười năm ta về chốn cũ
Lãng đãng chiều một bờ cây nghiêng
Chắc gì không lạ bến lạ thuyền

Đã lâu rồi ta nhớ ta quên
Hàm Luông – bến ta quen ghé
Bến Hàm Luông có em có mẹ
Bến bờ này một sắc trời trong
Ta gối ta ru giấc trưa nồng

Qua Hàm Luông em nhớ gì không?
Chiếc kẹp rơi vai chiều vỡ sóng
Chiếc kẹp rớt bên trời lá mỏng
Nụ hôn đầu, thuở ấy mười lăm
Gương mặt em biêng biếc trăng rằm

Qua Hàm Luông ta sẽ về thăm
Vườn dừa cũ âm thầm dáng mẹ
Bầy chìa vôi ríu ran giọng kể
Rằng nắng mưa mẹ bạc mái đầu
Cứ mơ hoài tiếng trẻ vườn sau

Qua Hàm Luông qua dòng sông sâu
Tiếng bìm bịp giăng giăng bờ bến
Dòng sông trôi trôi về phía biển
Rằng nơi đây ta gởi hồn mình
Hàm Luông ơi Hàm Luông…


 

Quê núi 1
Núi ở xa , núi ở thật gần
Bước chân lên ngỡ chừng ngược sóng
Núi mở những chân trời xa rộng
Gió mang đi hương sắc quê nhà

Quê núi 2
Núi âm thầm dựng lại trong ta
Cái dáng đứng của người dựng đất
Một mặt trời treo ngang tẩm ngực
Soi đường không lạc dấu chân sau

Quê núi 3
Con chim bay qua mấy tầng cao
Về đây hót nghe bình yên quá
Núi ẩn giấu thêm nguồn suối lạ
Xui ai yêu riêng đất quê mình .

 


PHẠM HỮU QUANG
Sinh năm: 1952 tai Bắc Đuông - Thốt Nốt
Mất ngày 28/4/2000 tại Long Xuyên – An Giang
Làm thơ năm 1969 , có thơ trên các tạp chí văn chương trước 1975

Tác phẩm đã in :

- Đàn Gà Con – Văn nghệ An Giang 1980
- Ngẫu Hứng Chiều Sông Hậu - Văn nghệ An Giang 2000




Sửa bởi Hồ Xuân Dung - 28/04/2008 lúc 14:00
http://www.phongsuvietnam.com
Bài này được cám ơn bởi: nina,Teo mi tòm,TrangThai,ThieuHung,Chú Rễ Thốt Nốt,Nguyễn Trung
Lên trên
ThieuHung View Drop Down
Thành viên cấp 4
Thành viên cấp 4
ảnh đại diện

Tham gia: 24/05/2006
Trạng thái: Offline
Point: 268
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn ThieuHung Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 01/05/2008 lúc 19:45
Cám ơn bài viết của H.X.D. Được biết hàng năm vùng ĐBSCL có một hội thi mang tên: "Hội thi giọng ca cải lương giải Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền" để tưởng nhớ cố soạn giả.
 
Xin góp thêm đây một vài hình ảnh về cụ Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền 
 
 
Lễ khánh thành phần mộ của cụ Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền   (Ảnh:TTO)
 
 
 
cụ Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền (st từ Internet)


Sửa bởi ThieuHung - 01/05/2008 lúc 20:13
Bài này được cám ơn bởi: nina,penny,Chú Rễ Thốt Nốt,Hồ Xuân Dung,Nguyễn Trung
Lên trên
2008 View Drop Down
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2
ảnh đại diện

Tham gia: 13/02/2008
Trạng thái: Offline
Point: 129
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn 2008 Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 19/01/2010 lúc 00:42

QUA HÀM LUÔNG

Qua Hàm Luông lòng ta như say 
Con sông trắng màu sương khói vỡ 
Hơn mười năm ta về chốn cũ 
Lãng đãng chiều một bờ cây nghiêng 
Chắc gì không lạ bến lạ thuyền 

Đã lâu rồi ta nhớ ta quên 
Hàm Luông – bến ta quen ghé 
Bến Hàm Luông có em có mẹ 
Bến bờ này một sắc trời trong 
Ta gối ta ru giấc trưa nồng 

Qua Hàm Luông em nhớ gì không? 
Chiếc kẹp rơi vai chiều vỡ sóng 
Chiếc kẹp rớt bên trời lá mỏng 
Nụ hôn đầu, thuở ấy mười lăm 
Gương mặt em biêng biếc trăng rằm 

Qua Hàm Luông ta sẽ về thăm 
Vườn dừa cũ âm thầm dáng mẹ 
Bầy chìa vôi ríu ran giọng kể 
Rằng nắng mưa mẹ bạc mái đầu 
Cứ mơ hoài tiếng trẻ vườn sau 

Qua Hàm Luông qua dòng sông sâu 
Tiếng bìm bịp giăng giăng bờ bến 
Dòng sông trôi trôi về phía biển 
Rằng nơi đây ta gởi hồn mình 
Hàm Luông ơi Hàm Luông… 



==> không biết Hàm Luông trong bài trên có phải là Xẻo Luông bi giờ không nhỉ!!

Không ngờ quê mình lắm nhân tài mà mình không hề hay biết nhỉ!!

Bắc Đuông ngay nhà mình lun đó!!

Tin này lâu nhưng vẫn còn giá trị!

Lên trên
Admin View Drop Down
Quản trị diễn đàn
Quản trị diễn đàn
ảnh đại diện

Tham gia: 10/01/2006
Trạng thái: Offline
Point: 2188
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn Admin Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 19/01/2010 lúc 03:38
Bài gốc của 2008 2008 đã viết:

==> không biết Hàm Luông trong bài trên có phải là Xẻo Luông bi giờ không nhỉ!!
Không ngờ quê mình lắm nhân tài mà mình không hề hay biết nhỉ!!
Bắc Đuông ngay nhà mình lun đó!!
Tin này lâu nhưng vẫn còn giá trị!

Khộng có tài liệu nào nói Hàm LuôngXẻo Luông cả. Sông Hàm Luông thuộc địa phận Bến Tre.

Còn đây là bài thơ của Trịnh Bửu Hoài viết tưởng nhớ Phạm Hữu Quang khi tiễn anh về quê cha đất tổ Bắc Đuông, Thốt Nốt.
Ảnh bên: Phạm Hữu Quang (từ wikipedia)


Đưa bạn về Bắc Đuông
(Trịnh Bửu Hoài)

* Nhớ Phạm Hữu Quang

 

Bạn trở về. Về với Bắc Đuông

Nơi dòng sông chảy qua lời ru của mẹ

Nơi câu thơ xanh màu lá trẻ

Ngọn đèn dầu soi sáng những trang văn

Quyển vở vàng thơm mùi rạ đồng bằng

Tiếng dế gáy theo vào giấc ngủ

Cha mất sớm mẹ lìa quê lam lũ

Chị theo chồng thui thủi bóng ven sông

 

Về Long Xuyên xa tiếng ếch đồng

Bạn đi giữa phố người lầm lũi

Thân bé nhỏ chí cao như núi

Qua sông sâu hồn khẳm chuyến phà

Bàng bạc xứ người một ánh trăng xa

Chiều sông Hậu làm thơ ngẫu hứng

Ngước mặt về tây Thất Sơn sừng sững

Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông

 

Bạn đã về. Về với mênh mông

Bỏ lại sau lưng cõi đời bẩn chật

Bỏ lại nhân gian những điều được mất

Suốt một đời lẩn quẩn thực hư

Cuộc chơi rồi cũng hóa phù du

Đi trăm nơi vẫn quay về chốn cũ

Cánh chim xa rừng thương nhớ tổ

Cội cành xưa còn đó dấu chào đời

 

Xa Long Xuyên. Bạn đã xa rồi

Còn đâu những chiều say ngất ngưỡng

Quán bên đường ngửi mùi khô nướng

Uống cạn bình chưa rõ mặt cơn say

Có những đêm nhân thế thật dài

Vườn ký ức hồn lang thang cô độc

Bạn nuốt khói nghe bạc từng chân tóc

Nặng hai vai gánh nợ tang bồng

 

Bạn đã về. Mãi mãi Bắc Đuông

Dòng sông xưa hát lời ru của mẹ

Những câu thơ bây giờ lặng lẽ

Kết thành sao soi một kiếp người

Dừng bước giang hồ. Bạn đã thảnh thơi.

Chuyện áo cơm cũng thành sương khói

Cồn Nguyễn Du gió mùa vẫn thổi

Không còn ai bên máy chữ gọi thơ về.


Nguồn: vannghesongcuulong.org


Sửa bởi Admin - 19/01/2010 lúc 03:45
Bài này được cám ơn bởi: nina,cktt,Teo mi tòm,2008
Lên trên
tapichban View Drop Down
Thành viên mới
Thành viên mới
ảnh đại diện

Tham gia: 30/11/2008
Đang ở: bordeaux Phap
Trạng thái: Offline
Point: 2
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn tapichban Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 27/12/2010 lúc 11:49
Chào Việt Nam
Trong bài viết có một chi tiết rất quan trọng : xin được gop ý cùng tác giả .....Vương Có là con của Vương Thiệu ..không phải là cha .....Xin tác gia" xem lại ......Bởi vì tôi là hậu due cu"a Vương Có ....
Vương Có có một con trai tên là Vương Kiến Nghĩa ; còn tui là con trai trưởng của V.K.Nghĩa .....
Vương Quang LỘc


Bài này được cám ơn bởi: nina
Lên trên
tapichban View Drop Down
Thành viên mới
Thành viên mới
ảnh đại diện

Tham gia: 30/11/2008
Đang ở: bordeaux Phap
Trạng thái: Offline
Point: 2
Quản lý bài Quản lý bài   Cám ơn (0) Cám ơn(0)   Trích dẫn tapichban Trích dẫn  Trả lờiTrả lời Direct Link To This Post đã gửi: 27/12/2010 lúc 11:59
Xin mách vối các bạn Thốt Nốt còn một ngưỜi rất Đáng nên nhấc đó là ông Trần vân Ân 
Lên trên
 Trả lời Trả lời
  Chia sẻ   

Đến diễn đàn Tôi có thể làm gì? View Drop Down

Web ThotNot
Web ThotNot.com Forum
Copyright © 2002-2017, ThotNot.com Forum - Diễn đàn đồng hương Thốt Nốt
Phát triển bởi tất cả các thành viên ThotNot.com, ThotNot.net
Địa chỉ liên hệ: adminthotnot.net